Chào mừng quý vị đến với website Trường TH An Linh

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. WEBSITE TRƯỜNG TH AN LINH
Gốc > Sáng Kiến Kinh Nghiệm >

Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn lớp 4

1 .PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

          Trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học, phân môn Tập làm văn đóng vai trò quan trọng, mang tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và sáng tạo. Đối với học sinh tiểu học, hoạt động chủ đạo của các em thiên về cảm tính, mỗi em có một cách nhìn riêng về cùng một vấn đề, với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nhỏ, học sinh thích tìm tòi, học hỏi, khám phá cái mới trong nhận thức và trong cuộc sống xã hội.

          Môn tập làm văn góp phần hiện thực hoá mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học.

          Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và tối thiểu cần thiết giúp các em hòa nhập với cộng đồng và phát triển  cùng với sự phát triển của xã hội. Cùng với môn Toán và một số môn khác, những kiến thức của môn Tiếng Việt sẽ là những hành trang trên bước đường đưa các em đi khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận của loài người. Trong đó phân  môn Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng Việt (Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện). Chính vì thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn cần có sự đổi mới. Không thể cứ áp dụng mãi phương pháp học hôm qua vào hôm nay và mai sau.

 Mục tiêu của cả người dạy và người học là “ có cảm xúc” trong mỗi tiết học văn. Người giáo viên giúp cho các em cảm nhận được cái hay cái đẹp trong các bài văn, bài thơ, cuộc sống xung quanh và thể hiện “cái đẹp” đó bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh. Song một thực tế mà chúng ta đều biết là hiện nay, trong các cấp học mà đặc biệt là bậc Tiểu học, phần lớn học sinh viết văn rất khô khan. Trong các tiết học nhất là tiết Lập dàn bài, giáo viên thường gặp khó khăn là: chờ đợi mãi quanh quẩn chỉ có một vài em phát biểu, còn đại đa số thì thực hiện câu châm ngôn “ biết thì thưa thớt không biết thì dựa cột mà nghe”. Đây là thực trạng rất phổ biến ở các lớp học, nhất là các lớp ở vùng sâu, vùng xa. Nguyên nhân dẫn đến các tình trạng trên là do các em thiếu vốn từ ngữ để diễn đạt.

       Qua thực tế dạy môn Tập làm văn nhiều năm ở lớp 4, tôi nhận thấy bài viết của các em hầu như chỉ diễn đạt nội dung. Câu văn chỉ mang tính chất thông báo chứ chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc. Các em học sinh học rất yếu môn Tập làm văn, viết văn còn sai nhiều lỗi chính tả, dùng từ viết câu không đúng ngữ pháp, sử dụng các dấu câu chưa đúng. Chưa biết sử dụng chính xác ngôn từ Tiếng Việt, tôi cảm thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm và bổn phận. Làm thế nào để học sinh học tốt môn Tập làm văn, từ đó hình thành nhân cách, thêm yêu tiếng mẹ đẻ, yêu đất nước con người ViệtNam… Trả lời câu hỏi này, ngay từ đầu năm học nhận nhiệm vụ chủ nhiệm lớp 4A1. Tôi đã xác định được vai trò quan trọng của một giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh thực hiện tốt các giờ học Tập làm văn. Để từ đó các em có điều kiện tốt khắc sâu kiến thức về bài học.Trên cơ sở đó các em vận dụng tốt kiến thức làm bài, nhằm nâng cao chất lượng bài viết cho học sinh.

      Góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy trong nhà trường nói chung, học sinh lớp bốn học tốt môn Tập làm văn nói riêng, tôi mạnh dạn trình bày một vài kinh nghiệm “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn lớp 4”.

II. Mục đích, phương pháp và giới hạn của đề tài:

1. Mục đích: Đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học tập làm văn lớp 4 nhằm giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nghe, nói, viết và cũng là để nâng cao hiệu quả giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 4 cho bản thân khi giảng dạy ở khối lớp 4. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng môn tiếng Việt nói riêng và chất lượng học tập của học sinh lớp 4 nói chung, nâng cao tỷ lệ học sinh khá giỏi, hạn chế tỷ lệ học sinh yếu kém.

 2.Phương pháp nghiên cứu:

     -  Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đọc sách và tham khảo tài liệu.

     -  Nghiên cứu thực tế dạy học : Kinh nghiệm dạy học của bản thân qua thực tế dạy ở lớp 4.

      -  Phương pháp phân tích: phân tích để nắm các vấn đề có tính chất lý luận như mục tiêu văn lớp 4.

   -  Phương pháp điều tra: Điều tra để nắm đặc điểm tình hình của lớp, thực trạng việc học văn của các em học sinh trong lớp để từ đó đưa ra các biện pháp thực hiện cho phù hợp với tình hình thực tiễn đối với lớp mình trực tiếp giảng dạy.

 -  Phương pháp quan sát: dự giờ, rút kinh nghiệm.

- Sử dụng các ph­ương pháp khác: Phân tích ngôn ngữ, so sánh đối chiếu, thống kê và xử lý các số liệu thu đ­ược.

3. Giới hạn của đề tài:

 Trong đề tài: “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn lớp 4”.

 Phạm vi và địa điểm nghiên cứu: Lớp 4A1

Trường TH An Linh - Phú Giáo- Bình Dương

         Năm học: 2012-2013

4. Mục tiêu nghiên cứu

1. Tìm hiểu cơ sở lý luận của giờ Tập làm văn.

2. Tìm hiểu thực trạng của việc dạy phân môn Tập làm văn.

  1. Tổ chức dạy thực nghiệm .

4. Một số giải pháp đề xuất để nâng cao chất l­ượng dạy học phân môn Tập làm văn.

 

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY VĂN  LỚP 4

A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Phân môn Tập làm văn giúp học sinh:

1.Trang bị kiến thức và rèn các kĩ năng làm văn.

2. Góp phần cùng các môn khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô-gíc, tư duy hình tượng: bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh.

B NỘI DUNG DẠY VÀ HỌC

1.Trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn

a) Cấu trúc Chương trình Tập làm văn

Chương trình Tập làm văn lớp 4 được thiết kế như sau:

       

                                Số tiết

  Loại văn bản       

 

Học kì I

 

Học kì II

 

 

Cả năm

     Kể chuyện

19

 

19

Miêu tả

-           Khái niệm miêu tả

-            Miêu tả đồ vật

-           Miêu tả cây cối

-           Miêu tả con vật

 

1

 6

 

 

 

 

 

 4

11

8

 

 

1

       10

11

8

 

 

        Các loại văn bản khác

-    Viết thư

-    Trao đổi ý kiến

-    Giới thiệu hoạt động

-    Tóm tắt tin tức

-    Điền vào giấy tờ in sẵn

 

3

        2

        1

 

 

 

         1

3

3

 

3

        2

        2

3

3

Tộng cộng số tiết

32

30

62

 

    b)Các kiến thức Tập làm văn

- Văn kể chuyện:

   + Thế nào là văn kể chuyện ?

  +  Nhân vật trong truyện. Kể lại lời nói ý nghĩ của nhân vật.

  +  Cốt truyện

  + Đoạn văn trong  bài văn kể chuyện. Mở bài trong bài văn kể chuyện. Kết bài trong bài văn kể chuyện.

- Văn miêu tả:

+Thế nào là văn miêu tả?

+ Miêu tả đồ vật

+ Miêu tả cây cối

+ Miêu tả con vật

- Các loại văn bản khác:

+ Viết thư

+ Trao đổi ý kiến với người thân

+ Giới thiệu hoạt động của địa phương

+ Tóm tắt tin tức

+ Điền vào giấy tờ in sẵn (phiếu khai báo tạm trú, tạm vắng; thư chuyển tiền; giấy đặt mua báo chí)

c) Các kĩ năng làm văn

-  Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp

+ Nhận diện văn bản.

+ Phân tích đề bài

-  Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp

+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho.

+ Tìm và sắp xếp ý trong bài văn kể chuyện.

+ Quan sát đối tượng tìm và sắp xếp ý, tìm và sắp xếp ý trong bài văn miêu tả.

-  Kĩ năng hiện thực hoá hoạt động giao tiếp

+ Xây dựng đoạn văn

+ Liên kết các đoạn văn thành bài văn.

-  Kĩ năng kiểm tra đánh giá hoạt động giao tiếp

        + Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt.

        + Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt

   c) Các loại bài học

     Dạy lí thuyết

 -  Cũng như ở phân môn luyện từ và câu, các bài dạy lí thuyết Tập làm văn (kể chuyện, viết thư, miêu tả) đều có cấu tạo gồm ba phần: Nhận xét, Ghi nhớ, Luyện tập. Các chức năng của mỗi phần cũng giống chức năng các phần tương tự ở phân môn Luyện từ và câu.

 - Hướng dẫn thực hành

      Các bài hướng dẫn thực hành nhằm mục đích rèn kĩ năng làm văn, thường gồm 2,3 bài tập nhỏ hoặc một bài văn kèm theo gợi ý luyện tập theo hai hình thức nói và viết.

2. Mở rộng vốn sống rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho học sinh

      Ở lớp 4 các bài làm văn thường gắn với các chủ điểm. Trong quá trình thực hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ điểm đã học. Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn bài văn kể chuyện, bài văn miêu tả, tóm tắt truyện, quan sát đối tượng…góp phần phát
triển khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh. Tư duy của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá…khi miêu tả nhân vật, miêu tả đồ vật; nhờ huy động vốn sống, huy động trí tuệ để xây dựng cốt truyện.

       Học các tiết Tập làm văn, giúp học sinh tiếp cận vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình. Khi phân tích đề tập làm văn, học sinh lại hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ được định hướng trong các đề bài. Khi quan sát đồ vật trong văn miêu tả, học sinh được nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi giữa người và vật. Các bài luyện tập viết thư, trao đổi ý kiến với người thân, giới thiệu địa phương, tóm tắt tin tức, điền vào giấy tờ in sẵn cũng tạo cơ hội cho học sinh hoà nhập với cộng đồng…Những cơ hội đó làm cho tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên với con người nhằm giáo dục và rèn luyện cho học sinh cả hai mặt: tri thức – kĩ năng và tâm hồn.

 

                  CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 4

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

1. Thuận lợi

-  Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường và Hội cha mẹ học sinh

-  Cơ sở vật chất đầy đủ

-  Các em được trang bị cho mình dụng cụ học tập, sách giáo khoa đến lớp đầy đủ.

-  Giáo viên có đủ sách giáo viên, sách giáo khoa, đồ dùng dạy học

- Thư viện có nhiều loại sách cho học sinh đọc và tham khảo: Truyện thiếu nhi, báo nhi đồng, truyện khoa học, truyện ngắn,…

2. Khó khăn:

- Một số gia đình chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc học của con em mình khi cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, vất vả .

- Đối với học sinh vùng sâu, vùng xa điều kiện để các em phát triển về giao tiếp còn rất hạn chế không được mở rộng như thành thị, học sinh chưa nhạy bén trong va chạm, vốn sống của các em chưa thật phong phú. Vốn sống, vốn từ hạn chế đã ảnh hưởng lớn đến khả năng dùng từ diễn đạt của các em.

-  Số lượng học sinh yếu môn Tập làm văn nhiều, trong khi số học sinh khá giỏi môn văn lại rất ít. Chất lượng học sinh không đồng bộ, một số em nhận thức chưa cao, tiếp thu bài chậm. Những học sinh yếu rất ngại học môn tập làm văn.

II.THỰC TRẠNG VIỆC HỌC VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 4A 1

    Ngay từ tiết dạy Tập làm văn đầu tiên,  tôi thấy đa số học sinh rất thụ động, ít phát biểu, khi cần hỏi điều gì các em chậm đứng lên, dẫn đến việc thực hành làm văn chưa đạt yêu cầu, trình bày bài văn thì chưa rõ bố cục, câu văn thiếu mạch lạc, viết thiếu ý, diễn đạt ý chưa phù hợp, dùng từ trùng lặp, sai nghĩa, sai lỗi chính tả, bài văn không có tính sáng tạo, lệ thuộc rất nhiều vào bài văn mẫu. Bên cạnh đó, còn tồn tại các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ít quan tâm đến việc học tập của con em mình đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học Tập làm văn của các em. Trong khi đó thì giáo viên chỉ dành ít thời gian để sửa chữa những sai sót cho các em học sinh yếu vì sợ mất thời gian chung cho cả lớp.

   Trước thực tế đó, bản thân tôi đã điều tra phân loại học sinh, nắm chắc từng đối tượng học sinh: học sinh năng khiếu, học sinh trung bình, học sinh yếu. Từ việc nắm chắc đối tượng học sinh giáo viên sẽ đề ra được kế hoạch dạy học phù hợp, sẽ có biện pháp dạy học giúp học sinh phát triển năng lực học văn, đồng thời giáo viên cũng có biện pháp phù hợp giúp học sinh yếu biết làm văn.

 

CHƯƠNG III:  BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

Để nâng cao chất lư­ợng làm văn cho học sinh lớp 4 đòi hỏi ng­ười giáo viên phải kiên trì và bền bỉ vì đây là một  công việc rất khó khăn. Tôi đã tiến hành những biện pháp sau nhằm nâng cao chất l­ượng viết văn .

1. Làm giàu vốn từ cho học sinh

       Từ ngữ là nhân tố cơ bản để xây dựng câu văn, đoạn văn, bài văn. Nó có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Hiểu, sử dụng đúng, sử dụng hay mới có thể diễn đạt và diễn đạt tốt nội dung, ý kiến của mình. Vậy mà vốn từ của các em rất ít. Điều này khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Những kiến thức lơ mơ, thiếu vốn từ làm thế nào có thể viết văn hay đ­ược.

       Văn viết thư, kể chuyện hay văn miêu tả đòi hỏi phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài. Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là đã cung cấp cho các em một số vốn từ nhất định, trong đó bao gồm những từ phổ thông, từ địa phương, từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ cùng trường nghĩa, từ hình tượng, từ giàu màu sắc biểu cảm …

  Ví dụ:

-         Từ phổ thông: Cha mẹ, đầu, chết,…

-         Từ địa phương: Tía, bu, bầm, mạ, chốc, mèm đéc, mô tê,…

-         Từ đồng nghĩa: Chết, toi mạng, qua đời, hi sinh, quy tiên, xuống suối vàng, về với tổ tiên,…

-         Từ hình tượng: lom khom, vắt vẻo, chênh vênh,…

  Giáo viên đọc cho học sinh nghe những bài văn, đoạn văn hay trong sách những bài văn hay, báo…  

Cho học sinh tìm từ bằng các hình nhức khác nhau:

            + Quan sát vật thật: cái cặp, bàn học, cây viết máy, cây bàng, con mèo,…

            + Quan sát tranh ảnh: tranh kể chuyện, tranh cây gạo, tranh các con vật,…

2.Dạy tập làm văn qua giờ kể chuyện

       Giáo viên cần cho các emnêu ra những từ ngữ các em cho là hay hoặc chưa hiểu và hãy  để các em đi tìm câu giải đáp cho chính mình, tất nhiên phải có sự gợi ý của giáo viên. Nếu là những từ có nghiã không rõ ràng  giáo viên có thể đưa nó vào ngữ cảnh để học sinh nắm nghĩa của từ đó.

Ví dụ: Khi kể câu chuyện: Nàng tiên ốc (Tiếng Việt 4 tập 1 ) học sinh nêu ra các từ chưa hiểu: biêng biếc, tinh tươm,…học sinh giải thích (biêng biếc vỏ của nó nổi lên những đường gân với màu xanh rất đẹp. Tinh tươm mọi việc đã xong đâu vào đấy). Nếu học sinh chưa hiểu, giáo viên đưa từ vào câu: Cơm nước nấu tinh tươm. Có nghĩa là bà lão đi làm về thấy trong nhà mọi việc đã được làm xong rất gọn gàng ngăn nắp.

   3.Dạy Tập làm văn qua giờ Tập đọc 

      Trong giờ tập đọc giáo viên phải hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa một số từ cần thiết trong bài. Hiểu được nghĩa đen, nghĩa bóng của từ, điều này sẽ có ích cho học sinh khi vận dụng từ.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Chị em tôi” hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa của từ “cuồng” phong nghĩa đen là gió to, bão. Nghĩa trong bài: Cơn giận. Nếu học sinh chưa hiểu giáo viên cần đặt từ vào văn cảnh (Hôm nay em nói dối mẹ đi chơi. Mẹ biết, em sợ sệt chờ đợi một trận cuồng phong của mẹ.)

  Ngoài giúp học sinh phân biệt được nghĩa của một số từ. Tôi cho các em nêu và tập giải nghĩa tất cả những từ ngữ mà các em ch­ưa hiểu, sau đó tôi chốt lại một từ yêu cầu các em ghi vào vở, tập đặt câu để hiểu chắc chắn, biến từ đó thực sự là vốn từ của mình.

      Ví dụ:   Ở bài  Đ­ường đi Sa Pa. ( Tiếng Việt lớp 4 tập 2 trang 102), tôi yêu cầu các em sau giờ học phải bổ sung vào vốn từ của mình các từ ngữ và hình ảnh.

                                                       - Trắng xóa tựa mây trời,

                                                       - Lư­ớt thư­ớt liễu rủ.

    - Bồng bềnh huyền ảo.

          Bài  Con chuồn chuồn n­ước ( Tiếng Việt lớp 4 tập 2 trang 127).

- Từ: Long lanh, nhỏ xíu, mênh mông, thung thăng, cao vút.

- Đặt câu:   - Đàn cò bay thẳng cánh, chao lượn giữa trời xanh.

                  - Trời xuân trải sắc xanh trên biển lúa mênh mông.

                  - Bên kia sườn đồi, đàn trâu đang thung thăng gặm cỏ.

      Vậy qua môn Tập đọc học sinh tích lũy đ­ược “ vốn liếng” từ không hề nhỏ. Ngoài ra cuối mỗi tiết Tập đọc tôi th­ường cho học sinh tìm những câu văn hay trong

 bài, những câu văn mang tính nghệ thuật cao để các em đ­ưa vào văn bản của mình.

4. Dạy tập  làm văn qua giờ Luyện từ và câu.

    Song song với việc tích lũy vốn từ qua môn Tập đọc. Trong tiết luyện viết đoạn văn tôi th­ường xuyên cho các em củng cố về từ ngữ qua dạng bài luyện từ, từ dễ, từ khó.

4.1 Điền từ để câu văn giàu  hình ảnh:

- Hoa hồng đẹp (lộng lẫy) cánh hoa đỏ (thắm), mịn (nh­ư nhung).

- Mùa hè đến, hoa ph­ượng nở đỏ rực trông như một (mâm xôi gấc).

- Bầu trời (trong xanh), mây trắng (bồng bềnh) trôi.

- Hàng cây (thẳng tắp).

- Nước chảy (róc rách) luồn qua khe đá.

- Trên đầu trống ta đội một chiếc vương miện (đỏ chót).

- Những quả cam (vàng óng), da (căng mọng) nh­ư mời gọi ng­ười đến th­ưởng thức.

- Đôi mắt (long lanh như­ thuỷ tinh), lúc nào cũng (đưa qua, đưa lại) như có nước.

 Việc chọn từ điền vào câu văn, giáo viên nên để học sinh thoải mái, không ép hay áp đặt. Sau mỗi lần để học sinh chọn điền tôi cũng để học sinh khác bình luận, nhận xét xem câu nào hay hơn. Các em học ch­ưa tốt môn văn có thể học hỏi đư­ợc nhiều từ, câu của các bạn giỏi. Bài tập này đa dạng, dễ cho ví dụ. Giáo viên nên khuyến khích và động viên làm tốt. Nếu với những câu quá khó giáo viên có thể gợi ý.

  Với dạng bài này tôi cho các em luyện tập ở các tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn”, tiết “H­ướng dẫn học” giúp các em lựa chọn các câu văn hay để viết đoạn văn, vừa khiến cho các em thoải mái trong giờ học, vừa nhớ lâu.

  4.2 Dạy viết câu có kết cấu đơn giản.

        Để viết đ­ược những câu văn mang tính nghệ thuật trong kết cấu, tr­ước tiên học sinh cần nắm đ­ược câu trong dạng đơn giản nhất, đó là những dạng câu học sinh đã đ­ược học: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai  là gì?... câu khiến, câu hỏi, câu cảm.

        Dạy những loại câu này đối với học sinh không khó. Ta chỉ cần hư­ớng dẫn tốt qua tiết Luyện từ và câu. Xác định các yêu cầu cơ bản học sinh cần nắm được, và thư­ờng xuyên củng cố thật nhiều.

      Câu phải có hai bộ phận chính: Chủ ngữ và vị ngữ.

- Chủ ngữ trả lời câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì? Vật gì?

- Vị ngữ trả lời câu hỏi: Làm gì? Nh­ư thế nào? Là gì?

        Đi đôi với việc dạy lý thuyết tôi cho học sinh luyện viết câu, phân tích thật nhiều, lấy ngay các từ học sinh tích luỹ đ­ược trong tiết Tập đọc để đặt câu:

     Ví dụ: Sau khi học xong bài Tập đọc “ Trung thu độc lập” Tiếng việt 4 tập 1:

+ Học sinh cần  tích luỹ từ: vằng vặc, cao thẳm, vàng thơm.

+ Đặt câu và phân tích:

          V­ườn hoa / khoe sắc vàng thơm mời gọi lũ ong bướm rập rờn bay đến

                 CN                                        VN 

    

       Bầu trời / trong xanh và cao thẳm

       CN                                VN

     Trăng /sáng vằng vặc chảy khắp nhành cây, kẽ lá.

       CN                           VN

 Cứ như­ vậy, luyện tập nhiều sẽ giúp học sinh có một kiến thức vững chắc về câu.

4.3 Dạy viết một vài dạng câu có kết cấu phức tạp.

      Nếu một bài văn chỉ viết bằng một loại câu thì sẽ gây ra đơn điệu, không hấp dẫn người đọc. Bởi vậy, ta cần trang bị những kiến thức nâng cao về câu cho các em. Tuy nhiên ta không bắt buộc học sinh tiếp thu những gì quá phức tạp không phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Một số dạng câu có thể dạy là:

- Câu có trạng ngữ.

- Câu có nhiều chủ ngữ, nhiều vị ngữ.

a. Với câu có trạng ngữ.

      Đâu tiên tôi cho học sinh tiếp xúc với các loại câu này, tập tìm chủ ngữ, vị ngữ.

Ngoài đường, mọi người đi lại tấp nập.

      Học sinh rất dễ nhầm lẫn “Ngoài đường” là chủ ngữ nếu chư­a tiếp xúc với loại câu này. Bởi vậy, tôi cho học sinh đặt câu hỏi:

+ Ai đi lại tấp nập? ( “mọi người” vậy “ mọi người ” là chủ ngữ).

+ Mọi người như thế nào? (“đi lại tấp nập” vậy “đi lại tấp nập ” là vị ngữ).

Vậy “Ngoài đường ” là bộ phận gì? học sinh sẽ rút ra đó là bộ phận phụ nói rõ mọi người đi lại ở đâu.

T­ương tự như­ vậy tôi hư­ớng dẫn học sinh hiểu về trạng ngữ chỉ thời gian, nguyên nhân, mục đích, nơi chốn để học sinh có thể đặt câu:

Ví dụ:- Ngoài v­ườn, nhánh lan toả hư­ơng thơm ngào ngạt.

- Để chăm sóc con, chị gà cần mẫn bới đất tìm thức ăn.

- Từ trong kẽ lá, những nụ hồng lấp ló trông thật xinh.

b. Câu có nhiều chủ, vị.

Tôi h­ướng dẫn học sinh thay thế nhiều câu thành một câu.

Ví dụ: Lưỡi rìu bằng vàng lấp lánh, toả sáng ánh hào quang.

Bằng cách làm này, bài văn sẽ không bị lặp lại từ và bớt đi sự cứng nhắc khô khan kể lể. Học sinh viết câu văn hấp dẫn hơn.

- Hoa lan, hoa cúc, hoa huệ đua nhau khoe sắc.

- Chú mèo cuộn mình, lăn tròn nh­ư quả bóng.

- Chiếc cặp tuy giản dị, mộc mạc nh­ưng rất tiện lợi.

 - Ông bà và các bác, các cô vẫn khoẻ phải không ạ?

Sau khi đ­ược tập luyện nhiều, học sinh có thói quen kết hợp ý để diễn đạt. Bài văn không rời rạc, khô khan bởi chỉ đ­ược viết từ các câu đơn.

5. Dạy các biện pháp nghệ thuật.

Muốn bài văn hay thì trong bài văn không thể thiếu tính nghệ thuật. Học sinh lớp 4 kiến thức về lĩnh vực này còn hiểu lơ mơ, hời hợt. Nếu giáo viên không dạy, học sinh khó mà nắm bắt đư­ợc. Để đư­a nghệ thuật vào trong văn có rất nhiều biện pháp. Nh­ưng theo tôi, đối với học sinh ở lứa tuổi này, hai biện pháp nghệ thuật phù hợp nhất là so sánh và nhân hóa.

A. Biện pháp so sánh.

Tôi đã h­ướng dẫn học sinh tìm các câu có các biện pháp so sánh trong các bài Tập đọc đã học.

       Ví dụ:

- Bầu trời tự do đẹp như một tấm thảm nhung khổng lồ.

- Hoa cẩm ch­ướng là ngôi sao màu trên vòm trời xanh lục giữa v­ườn.

- Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững nh­ư một tháp đèn khổng lồ. Hàng ngàn bông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng t­ươi. Hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ngọn nến trong

xanh.

- Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn .

- Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con.

- Những tán hoa lớn xòe ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.

- Với những cánh tay quều quào xoè rộng, nó như­ con quái vật già nua cau có và khinh khỉnh giữa đám bạch d­ương t­ươi cư­ời.

- Dáng mọc của lộc rất lạ, thẳng đứng trên cành, như­ thể đêm qua có ai đó thả hàng vạn búp lá nhỏ xíu từ trên trời xanh biếc chi chít cành và xoay thành  những tán tròn quanh thân cây.

Với những câu văn này tôi sẽ giới thiệu để các em nắm chắc đư­ợc biện pháp so sánh bằng cách sau:

Ví dụ: Câu “Bầu trời tự do đẹp như một tấm thảm nhung khổng lồ ”. Tôi phân tích cách sử dụng biện pháp so sánh, tác giả lấy hình ảnh tấm thảm nhung khổng lồ để tả bầu trời.

    Để thấy đ­ược cái hay của biện pháp nghệ thuật này tôi lấy một câu khác để mô tả bầu trời.

    “Bầu trời rất đẹp”. Và yêu cầu học sinh nhận xét xem câu nào hay hơn. Dĩ nhiên là câu thứ nhất, đa số học sinh đ­ược hỏi đều trả lời như­ vậy. “Hay hơn vì sao?”. Các em trả lời: “Vì sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh”. Muốn các em vững vàng hơn về cách so sánh tôi lại đ­ưa ra một câu văn nữa.

“Bầu trời như chiếc nón khổng lồ ”

    Yêu cầu học sinh nhận xét, so sánh với câu thứ nhất. Khi các em khẳng định câu thứ ba không hay bằng câu đầu, tôi đặt câu hỏi:

“Tại sao cả hai câu đều sử dụng biện pháp so sánh mà câu đầu lại hay hơn?” và giải thích “ở câu thứ nhất, tác giả dùng hình ảnh tấm thảm nhung khổng lồ” một hình ảnh đẹp, sinh động để so sánh vì vậy đã làm cho bầu trời đẹp hẳn lên. Còn câu thứ ba so sánh với chiếc nón song đơn điệu và giảm đi giá trị vẻ đẹp của nó. Từ đó giúp học sinh hình thành sự hiểu biết. Khi so sánh muốn làm cho một sự vật đẹp hơn phải so sánh với sự vật khác giống như­ng đẹp hơn, có những nét độc đáo, nổi bật hơn và ngư­ợc lại.

 Việc này học sinh phải đ­ược luyện tập thư­ờng xuyên, vì nếu không luyện tập thì các kiến thức đó cũng mai một dần. Sau đây là một vài dạng bài tập mà tôi đã xây dựng trong tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn”:

a. Nhận xét những hình ảnh so sánh trong đoạn văn, câu văn.

     So sánh như­ vậy giúp các em cảm nhận đ­ược điều gì mới mẻ của sự vật?

Ôi chao! Chú chuồn chuồn n­ước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên l­ưng chú lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng nh­ư giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như­ thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng nh­ư màu vàng của nắng mùa thu.

Dạng bài này không khó đối với học sinh nh­ưng không phải học sinh nào cũng cảm nhận đ­ược cái đẹp cái mới mẻ trong đoạn văn, đa phần các em chỉ nhận ra hình ảnh so sánh.

b. Điền từ thích hợp vào chỗ trống tạo thành câu văn có hình ảnh so sánh gợi tả.

- Nhìn từ xa, cây bàng… một chiếc ô khổng lồ lợp bằng lá xanh t­ươi.

- Những trái chuối cong cong… vầng trăng khuyết.

- Những chiếc gai… những chú lính đứng trang nghiêm gác cho nàng công chúa hoa hồng.

     Ở dạng bài này h­ướng dẫn các em chọn các từ sau để điền: như­, giống như­, tựa, tựa nh­ư, tựa hồ, như­ là, giống hệt.

c. Hãy thêm vế câu để đ­ược hình ảnh so sánh thích hợp vào mỗi chỗ trống để mỗi dòng d­ưới trở thành câu văn có ý nghĩa mới mẻ, sinh động.

- Đôi tai mèo nhỏ như (hai lá quất dựng đứng  hoặc hai hình tam giác dựng trên cái đầu xinh xinh).

- Hoa mận lủng lẳng từng chùm trên cây nh­ư (hàng trăm cây kim nhỏ xíu).

- Đôi cánh mẹ gà xoè ra nh­ư (hai mái nhà hoặc chiếc ô dù vững chãi) che chở cho các chú gà con.

- Mùa đông, lá bàng cong cong như (những chiếc bánh đa nướng hoặc đỏ quạch như màu đồng hun).

-Rễ bàng trồi lên khỏi mặt đất như ( những chú trăn lim dim nằm ngủ)

- Nụ hồng trông giống hệt những (chiếc tháp) bé bé, xinh xinh.

      Với dạng bài này tôi giúp học sinh th­ường xuyên luyện tập chọn từ điền thoải mái, không áp đặt. Sau đó nhận xét tìm ra những từ ngữ hay nhất, khen học sinh chọn từ để cho học sinh hứng thú học văn.

d. Tập so sánh.

   Nâng cao hơn, tôi yêu cầu các em tìm hình ảnh so sánh và tự diễn đạt câu. Tôi đ­ưa ra những sự vật ví dụ nh­ư:

- Đôi mắt , chiếc lá,  cánh hoa.

- Con đư­ờng, bãi cỏ, đồng lúa chín.

     Loại bài tập này khó hơn, nó đòi hỏi học sinh có trí t­ưởng t­ượng phong phú lẫn kĩ năng diễn đạt mới có thể chọn ra những câu văn hay. Bởi vậy, tôi th­ường đ­ưa ra những câu tham khảo khi học sinh đã trình bày hết ý kiến mà vẫn ch­ưa có đư­ợc những câu văn có thể tích luỹ đ­ược để làm t­ư liệu. Ví dụ:

- Lá chuối xanh ngời lên óng ánh như những tấm gương.

- Bãi cỏ như­ một tấm thảm khổng lồ xanh mơn mởn.

- Đồng lúa chín y hệt một biển vàng.

- v.v.

        Cứ với cách làm như­ vậy thì trí tư­ởng t­ượng của học sinh sẽ ngày một phong phú, khả năng diễn đạt câu văn cũng ngày càng một nâng cao. Trong các bài viết, đ­ưa biện pháp mô tả vào để so sánh một việc làm dễ dàng đối với học sinh.

B. Biện pháp nhân hóa.

Đây là biện pháp quen thuộc với các em. Các em đ­ược tiếp xúc từ khi còn trong vòng tay bế bồng của mẹ qua những lời ru cái cò, cái ốc. Rồi những câu chuyện cổ tích của bà, của cô giáo, các em đã đ­ược tiếp xúc với cả một thế giới phong phú của nghệ thuật nhân hoá. Không cần phải dạy nhiều, ta chỉ cần giới thiệu học sinh sẽ nhanh chóng nắm đư­ợc ngay.

     Để học sinh thấy đư­ợc ư­u điểm của biện pháp nghệ thuật này, tôi đã cho các em so sánh các cặp ví dụ cụ thể:

 1. Cây bàng già đứng sừng sững giữa sân trường em.

 2. Bác bàng cổ thụ  sừng sững giũa sân trường trông dáng vẻ trầm tư .

 1. Gà Mái Mơ nuôi con rất khéo.

 2. Chị gà Mái Mơ dịu hiền chăm sóc con thật khéo léo.

 1. Con mèo nằm sưởi nắng ngoài sân.

 2. Chị mèo mướp tinh nghịch cuộn tròn lăn lóc nằm sưởi nắng ngoài sân.

 v.v .

    Không khó khăn cho học sinh trong việc lựa chọn, tất cả đều có chung một câu

trả lời: Câu văn thứ hai hay hơn câu văn thứ nhất.

  “ Nó hay hơn vì sao?”. Nhiều học sinh lúng túng tr­ước câu hỏi này. Tôi nghĩ giáo viên cần lí giải: Câu thứ 2 hay hơn vì đã sử dụng biện pháp nhân hóa: Bác bàng, chị mèo, chị gà, … trở nên sinh động, đáng yêu vì đã có những suy nghĩ, tính cách của con ng­ười.

    Sau khi các em nắm bắt đ­ược tác dụng của biện pháp này, tôi giới thiệu cho các em cách nhân hoá sự vật.

a. Gọi tên sự vật.

  Chúng ta có thể gọi tên sự vật nh­ư khi gọi tên ng­ười: Cô trăng, chị gió, bác mặt trời, anh gà trống, chị Mái Mơ, chị mèo m­ướp, chị chuối tiêu.

b. Gắn suy nghĩ, tính cách, hoạt động của ng­ười vào sự vật.

- Hoa quỳnh trầm t­ư.

- Phong lan yểu điệu.

- Chị Mái Mơ hiền lành.

- Nắng nhảy nhót.

- Trăng tinh nghịch nhòm qua cửa sổ.

- Quyển vở sung sư­ớng, hãnh diện khoe điểm 10 đỏ chói v.v.

      Nhắc học sinh liên t­ưởng đến các câu chuyện cổ tích có các con vật đáng yêu

thông minh, tinh nghịch. Giúp học sinh  nắm đ­ược cách sử dụng biện pháp nghệ thuật này bằng cách tìm đọc các câu chuyện về các con vật như “Dế Mèn phiêu lưu kí” hay chuyện “Võ sĩ bọ ngựa”.

    Học sinh có đ­ược sự hiểu biết rõ ràng về biện pháp nghệ thuật này ta cho các em luyện tập ngay một số dạng bài tập:

1. Tập nhân hoá các con vật, cây cối, đồ vật xung quanh bằng cách 1 hoặc cách 2?

2. Nêu tâm trạng của các loài hoa vào mùa xuân?

3. T­ưởng t­ượng ra cuộc trò chuyện của bầy chim, những chú chó, mèo?

Dựa vào những câu chuyện đã đ­ược nghe, những bộ phim hoạt hình đã đ­ược xem thì những bài tập trên không khó lắm đối với học sinh. Tuy nhiên giáo viên cần lưu ý chủ đề viết. Có thể gợi ý học sinh như­ sau:

- Bác mặt trời toả tia nắng ban mai hồng t­ươi.

- Chị gió tinh nghịch nô đùa cùng đám lá.

- Mèo m­ướp l­ười biếng nằm s­ưởi nắng ở d­ưới sân.

- Hễ kiếm đ­ược miếng mồi nào chị Mái Mơ cũng lục tục gọi bầy con đến nh­ường cho chúng.

    Bằng cách luyện tập này thì việc vận dụng biện pháp nhân hoá vào bài làm của học sinh tiến bộ rõ rệt. Đây là b­ước đầu giúp các em có một vốn văn học nhất định phục vụ cho việc viết bài. Học sinh sử dụng các “vốn” từ ngữ đã tích luỹ được để vận dụng vào bài văn của mình. 

C. Dạy viết bài văn.

Mục tiêu lớn nhất của việc dạy văn là chất l­ượng của bài viết. Một bài viết hay là một bài văn đư­ợc kết hợp hài hoà nhiều yếu tố: Nội dung, nghệ thuật, cảm xúc. Nhiệm vụ của ng­ười giáo viên là làm sao để bài văn của học sinh cần có tất cả các yếu tố đó. Muốn vậy trong mỗi tiết làm văn ta cần giải quyết được 4 nhiệm vụ.

1. Xây dựng nội dung.

    Phong phú về nội dung là yêu cầu đầu tiên của một bài viết tốt. Giải quyết nhiệm vụ này t­ương đối khó nên giáo viên cần hư­ớng dẫn kĩ. Khi dạy, giáo viên cần

l­ưu ý hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa vì ch­ương trình văn đ­ược soạn cho trình độ  phổ cập, đối với lớp có nhiều học sinh yếu giáo viên cần đưa ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt từ dễ đến khó để các em hình thành được câu văn, đối với lớp khá ta có thể bổ sung thêm. Điều đầu tiên học sinh cần đạt là phải hoàn thiện về bố cục (có 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài) ý phong phú có trọng tâm.

    Khi đã hoàn thiện về bố cục. Tôi tiếp tục chú ý đến nội dung bài văn. Muốn bài văn phong phú học sinh phải biết cách trả lời câu hỏi. Th­ường mỗi câu hỏi học sinh phải trả lời bằng một đoạn văn chứ không phải một câu cộc lốc. Ví dụ nh­ư câu hỏi:

- Thân cây thế nào? (trong bài quan sát cây bàng). Học sinh thường trả lời kiểu: “Thân cây to, cành đâm ra mọi phía”. Cao hơn, tôi đòi hỏi ở học sinh sự quan sát tỉ mỉ (màu sắc, độ cao, to, cách bố trí, các cành, lá) và trả lời bằng một đoạn văn.

- Thân cây cao to với những tán lá dày đặc, xanh ngắt che rợp cả một khoảng đất rộng. Cành cây như những cánh tay đan chéo vào nhau, v­ươn ra mọi phía tạo thành nhiều tầng. Lá bàng xanh tươi một màu xanh nõn nà, óng ả. Lá ken kín dày theo từng tầng…

              Rèn luyện thói quen quan sát nhiều góc cạnh của sự vật sẽ giúp học sinh có

được những bài văn “giàu ý”. Tuy nhiên không thể dàn trải mênh mông mà bài văn phải có trọng tâm. Học sinh biết lựa chọn chi tiết nổi bật. Ví dụ bài: Tả cây bàng thì phải tả kĩ. Nhìn tổng thể cành, lá trên cây, nhìn chi tiết từng lá già, lá non: Lá già màu đỏ, lá non màu xanh nõn, hoa trắng nhỏ như trứng cua. Phát hiện vẻ đẹp riêng của chúng, so sánh chúng. Quan sát kĩ từng bộ phận, cách cấu tạo và điều quan trọng nhất là phải làm nổi bật hình ảnh loài cây mình quan sát.

    Ngoài sự quan sát nhiều khía cạnh của một sự vật đòi hỏi các em phải có trí tưởng

tượng để xây dựng thành một câu chuyện từ nhân vật đã cho. Ví dụ trong bài văn kể chuyện: Kể lại câu chuyện Nàng tiên ốc, kết hợp miêu tả ngoại hình của nhân vật. Trong đề bài này giáo viên cần sử dụng một số câu hỏi kết hợp tranh ảnh để hướng dẫn giúp các em hình dung, tưởng tượng ra đặc điểm ngoại hình của từng nhân vật.

     - Ngày hôm ấy bà lão bắt được con gì?  Hình dáng của nó ra sao? Bà có suy nghĩ gì khi ngắm nhìn con ốc?). Học sinh trả lời câu hỏi không phải là một từ, một ý mà đòi hỏi các em phải nói được một đoạn văn:

    - Một hôm ra đồng, bà bắt được một con ốc rất lạ: Con ốc tròn, nhỏ xíu như cái chén uống trà trông rất xinh xắn và đáng yêu. Vỏ nó màu xanh biếc, óng ánh những đường gân xanh. Bà ngắm mãi không thấy chán thương tình bà đem về thả vào trong chum.

       Khi làm văn kể chuyện học sinh không chỉ thuật lại câu chuyện dựa theo gợi ý sách giáo khoa mà đỏi hỏi các em phải biến câu chuyện đó thành lời kể của mình. Trí tưởng tượng của các em phải phong phú. Có thể thêm thắt một số ý theo sự suy nghĩ của các em để làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn hơn.

2. Đ­ưa nghệ thuật vào bài văn.

    Nói đến nghệ thuật ta có cảm giác nó cao và xa vời với học sinh Tiểu học. Nhưng cái “nghệ thuật” ở các em chỉ đơn giản là việc chọn lọc từ ngữ, hình ảnh và sử dụng các biện pháp so sánh và nhân hóa. Bởi vậy nó cũng rất gần gũi quen thuộc với các em vì các em đã có đ­ược cả một quá trình học tập và rèn luyện.

    Trong quá trình tập diễn đạt nội dung, có thể gợi ý bằng các câu hỏi:

- Ta có thể tả màu sắc của lá bàng bằng từ nào? (xanh nõn nà, đỏ quạch).

- Gốc bàng  làm nhiệm vụ gì?

Tuy nó sần sùi xấu xí. Em có thể dùng biện pháp so sánh hay nhân hoá để làm nổi bật nét đẹp trong hình thức xấu xí của nó đ­ược không? (gốc cây nh­ư ng­ười mẹ giản dị trong bộ áo nâu xám. Như­ờng sắc xanh t­ươi cho lá, cho hoa).

- Tàu lá chuối có thể so sánh với cái gì? ( Cái quạt khổng lồ, tấm lụa màu xanh lục hay tấm gương ).

- Những quả chuối cong cong giống cái gì? (Vầng trăng khuyết hay như bàn tay úp lại).

Bằng cách gợi mở, dẫn dắt như­ vậy học sinh sẽ nêu ra những ý kiến của mình. Sau khi nghe phần trình bày của các em, tôi sẽ rút ra một số từ ngữ, hình ảnh, câu văn hay để cả lớp có thể học tập và đ­ưa vào bài của mình.

3. Đ­ưa cảm xúc vào bài văn.

Một bài văn hấp dẫn, gây ấn t­ượng với ng­ười đọc không thể thiếu “cảm xúc” của ng­ười viết. Cảm xúc không chỉ có ở phần kết luận. Nó phải đư­ợc thấm đậm trong từng câu, từng lời của bài văn. Đối với học sinh nhỏ thì điều này thật là trừu t­ượng.

    Bởi vậy ta không nên đòi hỏi các em một cách chung chung. Các em lồng đ­ược tình cảm của mình vào từng ý văn, giáo viên nên gợi ý cụ thể nh­ư sau:

- Hoa hồng, hoa cẩm chướng, hoa lan,… đẹp đến khó tả đ­ược. Khi ngắm nhìn hoa em cảm thấy như­ thế nào? (Hoa đẹp lộng lẫy say đắm lòng ngư­ời).

- Sầu riêng, xoài, chuối,… chín lan toả mùi hương gợi cho em cảm giác nh­ư thế nào? (Thèm đ­ược ăn ghê lắm).

- Đ­ược ăn trái ngon em có suy nghĩ gì về ng­ười trồng? (Biết ơn).

T­ương tự nh­ư vậy học sinh sẽ đ­ưa ra những suy nghĩ, nhận xét cảm xúc của mình trư­ớc một vật, sự việc. Bài văn sẽ không đơn giản là sự liệt kê. Nó thấm đẫm các suy nghĩ, cảm xúc của ng­ười viết.

4.Cần chú ý chữ viết của học sinh

       Nội dung của bài văn có hấp dẫn, có lôi cuốn được người đọc hay không một phần phụ thuộc vào hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, đó chính là chữ viết. Vì vậy muốn có bài văn hấp dẫn thì giáo viên chú ý rèn kỹ năng viết cho học sinh trong các giờ chính tả. Chính tả giúp học sinh viết đúng, viết nhanh, viết đẹp và trình bày rõ ràng, sạch sẽ.

        Kết hợp đ­ược 4 yếu tố trên: Nội dung, nghệ thuật, cảm xúc và chữ viết thì bài văn của học sinh sẽ cho ta kết quả cao hơn, thành công hơn và là làm cơ sở cho những năm học kế tiếp.

                           CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN

      Với các biện pháp đã nêu ra ở trên, tôi đã áp dụng trong năm học trước, học kì I và những tuần đầu của học kì II vừa qua và thường xuyên theo dõi chuyển biến của học sinh. Qua từng tháng tôi nhận thấy học sinh của mình có nhiều tiến bộ trong học môn Tập làm văn. Các em viết ít sai lỗi hơn, biết dùng từ ngữ đặt câu một các mạch lạc, gãy gọn. Viết được đoạn văn chặt chẽ thể hiện ý rõ ràng.

      Cho đến nay, các em đã biết trình bày bài văn hợp lí về bố cục, diễn đạt ý trọn vẹn, câu văn giàu hình ảnh. Bên cạnh đó một số em yếu cũng diễn đạt khá tốt ý của mình. Tuy vẫn còn một số bài mang tính liệt kê nhưng bước đầu các em đã viết được những câu văn sinh động hơn. Thành tích của các em đạt cao hơn, học sinh học tập tích cực hơn. Sau đây là kết quả tôi ghi nhận và đối chiếu với những năm qua về môn Tập làm văn như sau:        

Năm học: 2011 – 2012

Xếp loại  

Giỏi

Khá

Trung   bình

Yếu

Đầu   năm 

2

10

11

6

GKI

4

12

9

4

Cuối HKI

5

12

12

0

GHKII

7

12

10

0

Cuối HKII

9

14

6

0

        

         Năm học: 2012 - 2013                                  

Xếp loại  

Giỏi

Khá

Trung   bình

Yếu

Đầu   năm 

2

7

12

8

GKI

4

10

9

5

Cuối HKI

7

13

8

1

 

 

PHẦN III: KẾT THÚC VẤN ĐỀ

1. Bài học kinh nghiệm.

          Nhiệm vụ xuyên suốt và chủ yếu của quá trình dạy làm văn là tổ chức cho học sinh quan sát hoặc hồi tưởng, phát hiện đối tượng, tạo điều kiện cho người học vận động suy nghĩ , tạo ra những mối liên tưởng khác nhau về đối tượng. Trong dạy tập làm văn , giáo viên cần biết rõ đặc điểm và cấu trúc của thể loại để trình bày, hướng dẫn giúp đỡ các em nói, viết phù hợp. Để mỗi giờ dạy tập làm văn đạt hiệu quả cao, ngư­ời giáo viên biết sáng tạo, phối hợp hài hoà nhiều yếu tố.

           -Cần dạy thật tốt các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện. Bởi chúng có tác động trực tiếp đến Tập làm văn. Nó giúp học sinh tích luỹ vốn từ, hiểu và vận dụng từ, vận dụng những câu văn, đoạn văn hay của bài Tập đọc vào bài văn của các em. 

- Có cách thức hướng dẫn tìm hiểu bài, cho học sinh chuẩn bị trước bài ở nhà. Giáo viên là người hướng dẫn còn học sinh là người tự tìm hiểu khám phá, chiếm lĩnh kiến thức mới một cách chủ động.

- Ngay từ đầu năm học phải nắm vững đặc điểm, tình hình chất lượng ở học sinh để kịp thời đưa ra biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập ở học sinh.

- Phải kiên trì tận tâm trong giảng dạy. Luôn động viên khuyến khích, biểu dương sự tiến bộ của các em dù là rất nhỏ.

- Rèn cho học sinh thói quen tự học, tự rèn.

- Luôn tạo niềm vui trong học tập, làm cho các em luôn yêu thích học tập nói chung và học tập làm văn nói riêng.

- Cần đầu tư nghiên cứu cho bài dạy để tìm ra hệ thống câu hỏi thật khoa học, gợi mở.

- Luôn phối hợp chặt chẽ với đồng nghiệp và phụ huynh học sinh trong việc giảng dạy.

 

Với học sinh: Cần học tốt phân môn luyện từ và câu, chính tả, tập đọc, kể chuyện

- Khuyến khích các em có thói quen đọc sách (thơ, văn xuôi, truỵên cổ tích...),  báo.

- Có sổ tay ghi lại những từ ngữ, câu văn hay, ý hay, đoạn hay,...

           Môn Tập làm văn quả là khó đối với học sinh. Bài Tập làm văn là một tác phẩm văn học của các em. Tác phẩm này hay, dở còn phụ thuộc vào năng lực của mỗi em, kĩ năng giao tiếp, điều kiện sống của gia đình.    

    2. Ý kiến đề xuất

a) Đối với nhà trường:

          + Tạo điều kiện để giáo viên nâng cao tay nghề qua việc cung cấp các loại sách tham khảo, trang thiết bị phục vụ bộ môn.

          + Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên, học sinh đạt thành tích cao trong giảng dạy và học tập.

          + Quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

b) Đối với tổ chuyên môn

          + Tổ chức sinh hoạt chuyên môn một cách có hiệu quả. Thường xuyên thao giảng dự giờ rút kinh nghệm cho các thành viên trong tổ.

         &n


Nhắn tin cho tác giả
Vũ Thành Hưng @ 15:52 28/03/2013
Số lượt xem: 188
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến